Chính sách quản lý của Indonesia về phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại

Chính sách quản lý của Indonesia về phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại

Ngày 13-03-2026 Lượt xem 62

1.Mô hình quản lý, chủ trương/quan điểm quản lý, cơ chế, chính sách và quy định pháp luật (về đầu tư, thương mại, ngoại thương, quy hoạch...) điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương

mại

              -Các văn bản pháp lý chính của Indonesia điều chỉnh các hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại đó là:

               Quy định (Nghị định số) số 29/2021 của Chính phủ về tổ chức lĩnh vực thương mại (https://peraturan.bpk.go.id/Details/161870/pp-no-29-tahun-2021)

              Quy định số 23/2021 của Bộ Thương mại liên quan đến hướng dẫn phát triển, sắp xếp, xây dựng trung tâm thương mại và cửa hàng tự phục vụ

             (https://peraturan.bpk.go.id/Details/166545/permendag-no-23-tahun-2021)

              Quy định số 18/2022 của Bộ Thương mại sửa đổi một số nội dung Quy định số 23/2021 của Bộ Thương mại liên quan đến hướng dẫn phát triển, sắp xếp, xây dựng trung tâm thương mại và cửa hàng tự phục vụ

             (https://peraturan.bpk.go.id/Details/223546/permendag-no-18-tahun-2022)

              Quyết định số 71/2019 của Bộ Thương mại về nhượng quyền thương mại.

             (https://peraturan.bpk.go.id/Details/128632/permendag-no-71-tahun-2019)

              -Bộ Thương mại Indonesia là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại, là cơ quan cấp phép hoạt động, nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên việc quy hoạch địa điểm xây dựng các trung tâm thương mại, cửa hàng phục vụ được giao cho chính quyền các địa phương.    

              -Indonesia hiện tại không hạn chế sở hữu nước ngoài đối với ngành bán lẻ. Trước đây, các hạn chế đầu tư nước ngoài được áp dụng cho ngành bán lẻ, đặc biệt là các hạn chế áp dụng đối với các cửa hàng bách hóa và cửa hàng tự phục vụ. Các siêu thị có diện tích sàn dưới 1.200m2 và các cửa hàng bách hóa có diện tích sàn từ 400m2 đến 2.000m2 được giới hạn ở mức 67% sở hữu nước ngoài.  Tuy nhiên, theo quy định mới hiện hành của Indonesia, Những điều kiện này không còn được giữ lại nhưng một số điều kiện nhất định như diện tích tối thiểu của một cửa hàng bách hóa, siêu thị, trung tâm mua sắm vẫn được áp dụng. Các cửa hàng tạp hóa dưới hình thức cửa hàng bách hóa được mở cửa cho đầu tư nước ngoài nếu chúng nằm trong trung tâm mua sắm. Quyền sở hữu các cửa hàng bách hóa không nằm trong hoặc tích hợp với các trung tâm mua sắm chỉ được được giới hạn cho các công ty nội địa.

              -Nhà sản xuất, Nhà phân phối và Nhà bán buôn/Người bán bị cấm phân phối hàng hóa bán lẻ cho người tiêu dùng; Các nhà nhập khẩu bị cấm phân phối hàng hóa trực tiếp cho các nhà bán lẻ trừ khi đóng vai trò là nhà phân phối; Các nhà bán lẻ bị cấm nhập khẩu hàng hóa.

              - Trong trường hợp kinh doanh bách hóa Siêu thị (Supermarket Store) dưới hình thức cửa hàng bách hóa (department store), việc thành lập cửa hàng bách hóa bởi doanh nghiệp kinh doanh là: (i) nhà đầu tư nước ngoài phải tích hợp với Trung tâm thương mại đã có giấy phép kinh doanh; hoặc (ii)              Nhà đầu tư trong nước có thể thực hiện độc lập hoặc liên kết với các trung tâm thương mại đã có giấy phép kinh doanh và/hoặc các tòa nhà, khu vực khác. Các quy định như dự định tại đoạn (i) và đoạn (ii) không áp dụng cho Siêu thị nếu chúng được tích hợp với Trung tâm mua sắm đã có Giấy phép kinh doanh, Trung tâm thương mại và/hoặc các tòa nhà hoặc khu vực khác.

              Về nhượng quyền thương mại, được quy định tại Quyết định số 71/2019 của Bộ Thương mại. Đây là văn bản pháp lý chính điều chỉnh các hoạt động nhượng quyền thương mại của Indonesia vào thời điểm hiện tại. Quyết định này thay thế toàn bộ các quy định trước đây về kinh doanh nhượng quyền thương mại. Đặc biệt, quy định mới sửa đổi các quy định liên quan đến hạn chế kiểm soát chung, số lượng cửa hàng tối đa được phép, các yêu cầu liên quan đến việc sử dụng nguyên liệu, thiết bị hoặc sản phẩm có nguồn gốc địa phương cũng như quy định hiện hành điều chỉnh các hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trước  Quyết định (MoTR) 71/2019, các quy định về nhượng quyền thương mại được trải rộng trên nhiều quy định, cụ thể là: (a) quy định về kinh doanh nhượng quyền thương mại (MoTR số 53/M-DAG/PER/8/2012 và các sửa đổi), (b) quy định về nhượng quyền thương mại đối với hoạt động kinh doanh cửa hàng hiện đại (MoTR số 68/M-DAG/PER/10/2012), (c) quy định về phát triển quan hệ đối tác trong nhượng quyền thương mại thực phẩm và đồ uống (MoTR số 07/M-DAG/PER/2/ 2013 và sửa đổi) (d) quy định về logo nhượng quyền thương mại (MoTR số 60/M-DAG/PER/9/2013).

               Những nội dung chính của Bộ trưởng Bộ Thương mại Quy định số 71/2019 bao gồm:

              -Hạn chế kiểm soát chung hiện đã bị thu hồi, trước đây, bên nhượng quyền không thể chỉ định bên nhận quyền có liên quan đến mối quan hệ kiểm soát chung với bên nhượng quyền. Mối quan hệ kiểm soát chung thường xảy ra khi một công ty kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi một đơn vị khác. Với quy định mới, bên nhượng quyền giờ đây có thể ký kết hợp đồng nhượng quyền với công ty con của chính mình.

              -Số lượng cửa hàng, MoTR 71/2019 loại bỏ các yêu cầu hiện có về số lượng cửa hàng tối đa, tuy nhiên vẫn có những yêu cầu ràng buộc khi muốn mở rộng số lượng các cửa hàng. Trong quy định trước đây, số lượng cửa hàng tối đa của một bên nhượng quyền là 150 cửa hàng đối với những gì được phân loại trong quy định là kinh doanh cửa hàng hiện đại và 250 cửa hàng đối với các doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống.

              -Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa (hàm lượng địa phương), Quy định loại bỏ các yêu cầu trước đây về việc sử dụng 80% nguyên liệu, thiết bị hoặc sản phẩm có nguồn gốc địa phương, giờ đây chỉ bắt buộc bên nhượng quyền phải “ưu tiên sử dụng hàng hóa và dịch vụ địa phương”.

              - Có nghĩa vụ phải có Giấy chứng nhận đăng ký nhượng quyền thương mại (STPW) đối với bên nhượng quyền, bên nhượng quyền liên tục, bên nhận quyền và bên nhận quyền tiếp tục. Nếu STPW không được đăng ký, bên kinh doanh nhượng quyền thương mại sẽ bị xử phạt hành chính và/hoặc bị thu hồi giấy phép kinh doanh theo quy định này.

              -Quy định nhượng quyền thương mại mới này không phân biệt giữa nhà nhượng quyền nước ngoài và nhà nhượng quyền trong nước. Về vấn đề này, các chủ thể kinh doanh nhượng quyền không cần lo lắng việc kinh doanh thương hiệu nước ngoài sẽ bị doanh nhân Indonesia thống trị. Điều này là do các chủ thể kinh doanh sẽ có xu hướng lựa chọn những sản phẩm hoặc nguyên liệu địa phương vẫn sẵn có để tiết kiệm chi phí sản xuất. Điều này sẽ mở ra việc làm và tăng thu nhập cho người dân.      

              -Được điều chỉnh bởi luật pháp Indonesia, Quy định nhấn mạnh rằng các thỏa thuận nhượng quyền thương mại phải được điều chỉnh bởi luật pháp Indonesia. Các quy định trước đây chưa rõ ràng về khía cạnh cụ thể này.

              2. Chiến lược, quy hoạch phát triển, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên

quan/ảnh hưởng hoặc trực tiếp điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển

chuỗi/hệ thống cơ sở bán lẻ, hệ thống nhượng quyền thương mại của nhà cung cấp

dịch vụ nước ngoài.

              -Chính phủ quy định diện tích tối thiểu cho việc xây dựng các trung tâm mua sắm, siêu thị và cửa hàng tự dịch vụ:  a.chợ nhỏ, lên tới 400 m 2 (bốn trăm mét vuông);b.siêu thị, trên 400 m 2 (bốn trăm mét vuông) đến 5.000 m 2 (năm nghìn mét vuông);c.cửa hàng bách hóa, ít nhất 400 m 2 (bốn trăm mét vuông);d.đại siêu thị rộng trên 5.000 m2 ( năm nghìn mét vuông); Và e. cửa hàng Bán buôn tự phục vụ tối thiểu 2.000 m2 ( hai nghìn mét vuông).

              -Nghĩa vụ cung cấp không gian kinh doanh và/hoặc không gian quảng cáo cho các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ và/hoặc tiếp thị các sản phẩm nội địa với thương hiệu nội địa ít nhất 30% (ba mươi phần trăm) diện tích của Trung tâm mua sắm theo quy định.

              -Các chủ thể kinh doanh chỉ được có tối đa 150 (một trăm năm mươi) cửa hàng Siêu thị do mình sở hữu và quản lý. Trong trường hợp chủ thể kinh doanh đã có 150 cửa hàng siêu thị và sẽ bổ sung thêm các cửa hàng siêu thị, thì chủ thể kinh doanh có nghĩa vụ nhượng quyền cho mỗi cửa hàng siêu thị được thêm vào hoặc liên doanh hoặc chia sẻ lợi nhuận với MSMEs theo quy định tại các quy định của pháp luật.

              - Đưa ra quy định khung về thỏa thuận hợp tác giữa Nhà cung cấp và Siêu thị để đảm bảo quyền lợi công bằng cho các bên.

              3.Báo cáo, đánh giá tổng kết hàng năm hoặc theo giai đoạn của các nước trên về tình hình quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong tương quan so sánh với hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ trong nước trên thị trường

              -Tham khảo tài liệu tại đường link kèm theo

(https://ditjenpen.kemendag.go.id/storage/publikasi/5QqkD1tZ9rzn9yPSIBW7RkiyYreg0Gbs6CG2xmyl.pdf)

              -Theo số liệu của Bộ Thương mại Indonesia, hoạt động nhượng quyền được chia theo ngành năm 2023 của Indonesia như sau:

 

Lĩnh vực kinh doanh

Thực phẩm và đồ uống

Giáo dục

Bán lẻ

Khác

Nhượng quyền Thương mại ngoài nước

63 %

14,52%

13,7%

8,78%

Nhượng quyền Thương mại trong nước

58,37%

13,40%

15,31%

12,92%

 

              4.Các nghiên cứu, tổng kết của các cơ quan chức năng/trường đại học/viện

nghiên cứu/tổ chức nghiên cứu có uy tín về kinh nghiêm quản lý, bài học chính sách

của các nước trên đối với hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực phân phối bán

lẻ và nhượng quyền thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài

              Một số nghiên cứu, tổng kết của các đơn vị chức năng chỉ ra một số thách thức và khuyến nghị liên tới dịch vụ phân phối bán lẻ của Indonesia như sau: Sử dụng sản phẩm trong nước; thiếu minh bạch về pháp quyền; hạn chế về sở hữu (trong một số cam kết quốc tế).  Chính phủ cần tham vấn với khu vực tư nhân trong quá trình xây dung, thực thi các quy định quản lý;  Chính phủ cần bãi bỏ các quy định hạn chế trong nước  gây khó khăn cho  việc thành lập các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tại Indonesia;  Chính phủ Indonesia cần học hỏi những thực tiễn tốt nhất từ các nước khác có hoàn cảnh tương tự;  Doanh nghiệp tư nhân và chính phủ cần tích cực hơn trong việc phát triển các doanh nghiệp SME; Các nhà cung cấp dịch vụ phân phối của Indonesia cần cải thiện năng lực cạnh tranh nhằm cạnh tranh ở thị trường nước ngoài; Hiện đại hóa dịch vụ bán lẻ cần được chính phủ hỗ trợ trong Cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước như viễn thông, tiếp cận internet, chuỗi cung ứng, giao hàng và hệ thống thanh toán điện tử.

              Một số tài liệu khác về nội dung có liên quan có thể tham khảo tại:

1.http://repository.stiemahardhika.ac.id/3314/3/JURNAL%20-%20ALVIAN%20ADE%20ERWANSYAH%20-%2018210733.pdf

2.https://repository.unpas.ac.id/30412/5/bab%201%20griya%20revisi%20joss.pdf

3.file:///C:/Users/Asus/Downloads/jssp,+Journal+manager,+Retail+Policy+Dilemma+and+The+Existence+of+Modern+Retail+in+Indonesia+and+Malaysia.pdf

              5.Chính sách/nội dung cam kết về mở cửa thị trường/hạn chế tiếp cận thị trường của các nước trên đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong lĩnh vực phân phối bán lẻ và nhượng quyền thương mại tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

              -Cam kết của Indonesia tại Gói thứ 9 của Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS 9): (i) Dịch vụ thương mại bán buôn thực phẩm, đồ uống và thuốc lá với diện tích tối thiểu trên 5000 m2 (CPC 6222), FDI thông qua liên doanh lên tới 51%; (ii) Dịch vụ Thương mại Bán buôn Dệt may, Quần áo và Giày dép với Diện tích Tối thiểu Trên 5000 m2 (CPC 6223), vốn FDI thông qua liên doanh lên tới 51%; (iii) Bán hàng trực tiếp (Marketing đa cấp), FDI thông qua liên doanh lên tới 51%.

              -Cam kết của Indonesia tại Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP):

          1. Dịch vụ thương mại bán buôn thực phẩm, đồ uống và thuốc lá với không gian tối thiểu trên 5000 m2 (CPC 6222)

2. Dịch vụ thương mại bán buôn hàng dệt may, quần áo và giày dép với diện tích tối thiểu trên 5000 m2 (CPC 6223)

Đối với các phân ngành nêu trên, FDI chỉ được phép hoạt động tại Kalimantan, Sulawesi, Nusa Tenggara,Maluku và Papua nhưng chỉ hoạt động ở thủ đô. Nó sẽ thiết lập các cơ sở hỗ trợ phân phối. Các nhà đầu tư có nghĩa vụ hợp tác với ít nhất 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Indonesia hàng năm và tất cả các nhà bán buôn phải duy trì  cơ cấu 80:20 (80 dành cho sản phẩm địa phương). Chế độ 1 và Chế độ 4 vẫn chưa bị ràng buộc.

3. Dịch vụ bán buôn (CPC 6111, 6224, 6228) liên quan đến phân phối ô tô (không bao gồm xe máy), hộ gia đình thiết bị điện, máy móc văn phòng, máy móc xây dựng do một công ty Nhật Bản cung cấp tại Indonesia,

Cam kết Phương thức 3 sẽ được xem xét lại sau 10 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Chế độ 1,2,4 vẫn không bị ràng buộc

4. Bán lẻ thực phẩm, đồ uống và thuốc lá có không gian từ 1200 đến 5000 m2 (chỉ siêu thị) (CPC 6310), FDI được phép thông qua liên doanh lên tới 35%. Chế độ 1 và 4 vẫn không bị ràng buộc

5. Dịch vụ nhượng quyền thương mại (CPC 8929) chỉ giới hạn bên nhượng quyền, FDI được phép thông qua liên doanh lên tới 51%

6. Bán hàng trực tiếp (Tiếp thị đa cấp), Chế độ 1 và 2 là “không có” trong khi Chế độ 3 và 4 là “không ràng buộc”.

Bên cạnh đó, Hiện Indonesia chưa cam kết  về ngành dịch vụ phân phối tại các: Hiệp định thương mại dịch vụ ASEAN-Trung Quốc, Hiệp định FTA Asean-Australia-New Zealand, Hiệp định thương mại dịch vụ Asean-Ấn Độ, Asean-Hàn Quốc. 

Tuy nhiên liên quan tới Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Indonesia-Hàn Quốc, Indonesia có các cam kết để Việt Nam tham khảo:  

https://www.fta.go.kr/webmodule/_PSD_FTA/id/2/eng/Annex%206-E-Schedule%20of%20Specific%20Commitments%20Indonesia_201110%20clean%20version.pdf

Liên hệ wiget Chat Zalo